Lịch sử khoa

I. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG VẺ VANG

Mùa thu năm 1956, trong không khí đón chào năm học mới, Ban Địa lý trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) Hà Nội, tiền thân của khoa Địa lý ngày nay, đã được thành lập. Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, thầy trò thuộc các thế hệ của khoa Địa lý luôn luôn phấn đấu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo mọi mặt và góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, xứng đáng là một trung tâm đào tạo cán bộ địa lý sư phạm lớn nhất của cả nước.

1. Mốc son đáng nhớ - mùa thu 1956

1.1. Thuở ban đầu

Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu mở ra một trang sử mới. Miền Bắc nước ta được giải phóng và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mặc dù đất nước còn bộn bề khó khăn, nhưng bên cạnh việc khôi phục và phát triển kinh tế, Đảng và Bác Hồ rất quan tâm tới sự nghiệp trồng người. Chính trong bối cảnh đó, khoa Địa lý trường ĐHSP Hà Nội đã ra đời.

Trước đó ở bậc đại học chưa có một khoa hay một ban nào đào tạo chuyên về Địa lý. Kiến thức Địa lý chỉ có ở một số bộ môn trong chương trình đào tạo của Ban Lịch sử. Vì vậy Ban Địa lý được thành lập vào mùa thu năm 1956 có thể coi như là cơ sở đào tạo cán bộ Địa lý đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Khi mới hình thành, số lượng cán bộ và sinh viên còn rất ít. Trong lễ khai giảng năm học đầu tiên vào tháng 9 năm 1956 chỉ có 5 thầy thuộc biên chế Ban Địa lý. Thầy Nguyễn Đức Chính được cử làm trưởng ban và là người có công lớn trong việc xây dựng khoa Địa lý trường ĐHSP Hà Nội cũng như sự phát triển của khoa học Địa lý nước nhà. Cùng với thầy trưởng ban còn có các thầy Hoàng Thiếu Sơn, Đào Bá Cương, Trần Đình Gián và Đinh Văn Nhật. Một thời gian sau, đội ngũ cán bộ được bổ sung thêm các thầy Lê Bá Thảo, Lê Xuân Phương, Nguyễn Đức Mậu, Trần Anh Châu, Nguyễn Dược, ... Ngoài số cán bộ giảng dạy, còn có ông Nguyễn Văn Hoàn phụ trách phòng thực hành, ông Đoàn Kim Thanh phụ trách phòng bản đồ và chuyên vẽ bản đồ phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu.

Về sinh viên, lúc mới thành lập chỉ có 2 lớp: một lớp từ Ban Lịch sử chuyển sang và một lớp được tuyển chính thức vào Ban Địa lý.

Lớp Địa lý 2, theo cách gọi lúc bấy giờ, bao gồm khoảng 17 người đã học hết năm thứ nhất Ban Lịch sử, nay học tiếp năm cuối theo chương trình đào tạo địa lý. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1957, có 6 người được giữ lại làm cán bộ giảng dạy. Đến năm 1960 có 3 người chuyển sang cơ quan khác và chỉ còn lại 3 người, trong số này có thầy Vũ Tự Lập sau này trở thành chủ nhiệm bộ môn Địa lý tự nhiên khu vực, Giáo sư Tiến sĩ, và cũng là người có nhiều đóng góp cho sự phát triển của bộ môn Địa lý tự nhiên Việt Nam và Cảnh quan học.

Lớp Địa 1 là lớp đầu tiên được tuyển chính thức vào Ban Địa lý và cũng là khoá đầu tiên học theo chương trình 3 năm (1956-1959) với tổng số 45 người. Sinh viên lớp này bao gồm giáo viên cấp 2, bộ đội phục viên và học sinh tốt nghiệp phổ thông cấp 3 thuộc các tỉnh và thành phố ở miền Bắc. Sau khi tốt nghiệp, 13 người được giữ lại công tác tại các trường đại học, trong đó có hai người sang trường Đại học Kinh tế Quốc dân, hai người sang khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội và 9 người làm cán bộ giảng dạy tại khoa Địa lý. Sau đó có thêm 6 người tốt nghiệp khoá này từ các trường phổ thông chuyển về khoa làm công tác giảng dạy. Hầu hết số cán bộ nói trên về sau đã trở thành lực lượng chủ chốt xây dựng các bộ môn trong khoa như thầy Bùi Văn Loãn (Cơ sở Địa lý kinh tế), PGS.TS Ngô Đạt Tam (Bản đồ học), PGS.TS Đỗ Hưng Thành (Địa mạo học), thầy Nguyễn Văn Âu (Địa lý thuỷ văn), thầy Đặng Ngọc Lân (B) (Địa lý sinh vật), thầy Lê Trọng Túc, thầy Trịnh Sanh (Địa lý tự nhiên Việt Nam), PGS. Nguyễn Phi Hạnh (Địa lý tự nhiên các lục địa); thầy Nguyễn Văn Quang, thầy Nguyễn Trọng Điều, thầy Vũ Xuân Thảo (Địa lý kinh tế Việt Nam).

1.2. Vạn sự khởi đầu nan

Từ khi mới thành lập Ban Địa lý, khó khăn chồng chất...

Trước hết đó là chương trình đào tạo và đội ngũ cán bộ giảng dạy. Vấn đề cấp thiết được đặt ra là phải xây dựng chương trình đào tạo hệ Đại học chuyên ngành Địa lý trên cơ sở hầu như từ hai bàn tay trắng, ngoài một số tài liệu ít ỏi về Địa lý của người Pháp. Vì thế, các thầy phải tự lực cánh sinh, tự nghiên cứu, bồi dưỡng chuyên môn để đáp ứng nhu cầu đào tạo. Đội ngũ cán bộ giảng dạy lúc đó rất thiếu và về chuyên môn còn có hạn chế do chưa bao giờ được đào tạo về lĩnh vực địa lý. Bằng sự nỗ lực phi thường, công tác giảng dạy và học tập của Ban Địa lý dần dần được ổn định.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập hầu như không có gì, trừ một số bản đồ tỉ lệ 1/100.000. Các giáo trình, hệ thống bản đồ treo tường, atlat và các trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy, học tập đều phải xây dựng từ đầu. Các tài liệu tham khảo, nhìn chung, rất hạn chế.

Vạn sự khởi đầu nan. Mặc dù gặp muôn vàn khó khăn, nhưng với tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình, cả thầy và trò đã từng bước vượt qua. Mặt khác, Bộ Giáo dục và nhà trường, đặc biệt là Giáo sư Hiệu trưởng Phạm Huy Thông đã trực tiếp theo dõi, chỉ đạo sự hoạt động của Ban Địa lý. Với sự nỗ lực của tập thể cán bộ trong Ban và sự giúp đỡ có hiệu quả của Nhà trường, những khó khăn tưởng chừng khó vượt qua đã dần dần được khắc phục.

2. Những chặng đường phát triển

Căn cứ vào sự thay đổi về chương trình đào tạo và tình hình chung của đất nước, quá trình 50 năm xây dựng và phát triển của khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội có thể được chia thành các giai đoạn chủ yếu sau đây:

2.1. Giai đoạn từ khi thành lập cho đến năm 1965

Đây là giai đoạn hình thành và phát triển của khoa Địa lý trong hoàn cảnh hoà bình. Giai đoạn này có thể chia làm 2 thời kỳ:

2.1.1. Thời kỳ khởi đầu (1956 - 1959)

Ở thời kỳ này do đội ngũ cán bộ còn ít nên Ban Địa lý nằm trong khoa Sử Địa. Cả Ban bao gồm 2 bộ phận: bộ phận trực tiếp giảng dạy (cán bộ giảng dạy) và bộ phận phục vụ giảng dạy (cán bộ thực hành, văn phòng và phiên dịch). Lúc này chưa hình thành các tổ chuyên môn. Ngoài đội ngũ cán bộ cơ hữu, ban Địa lý mời thêm thầy Trương Cam Bảo, cán bộ giảng dạy khoa Mỏ - Địa chất thuộc trường Đại học Bách khoa đến dạy môn Địa chất đại cương và Địa chất lịch sử.

Do số lượng giáo viên còn quá ít, nên việc xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Sau năm học đầu tiên, đến đầu năm học 1957-1958 có thêm một số thầy ở các cơ quan khác chuyển đến như thầy Lê Bá Thảo, thầy Trần Anh Châu, thầy Nguyễn Dược, thầy Lê Xuân Phương. Tiếp sau đó là 6 sinh viên khoá chuyển tiếp Sử - Địa tốt nghiệp được giữ lại, trong đó có thầy Vũ Tự Lập, cô Huỳnh Thị Ngọc Hương, thầy Trịnh Huy Chiểu... Sự tăng nhanh số lượng cán bộ có vai trò rất quan trọng trong bước khởi đầu của Ban Địa lý.

Về chương trình đào tạo, sau khoá học đầu tiên (1956 - 1959) do nhu cầu về giáo viên địa lý của các trường phổ thông tăng lên nhanh chóng nên chương trình đào tạo chung của cả trường rút xuống còn 2 năm và hệ 2 năm kéo dài cho đến năm học 1961 - 1962. Nội dung giảng dạy gồm 10 môn (Địa chất học, Bản đồ và trắc địa, ĐLTN đại cương, ĐLTN các châu, ĐLTN Việt Nam, Cơ sở địa lý kinh tế, ĐLKT thế giới, ĐLKT Việt Nam, Giáo học pháp và thực địa), nhưng chưa có quy định hệ thống kiến thức một cách rõ ràng, chặt chẽ. Các phương tiện và đồ dùng dạy học cơ bản nhất không đủ. Các giờ học trên lớp phụ thuộc vào sự trình bày, minh họa của thầy giáo và sự ghi chép của trò. Hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo còn rất thiếu.

Tuy nhiên, ở thời kỳ đó nề nếp học tập của sinh viên, tổ chức thi cử rất nghiêm túc, lên lớp đúng giờ, tập trung nghe giảng và ghi chép đầy đủ. Việc tổ chức ăn ở, học tập tại ký túc xá rất tốt. Ý thức tự quản, tự học tập, tự nghiên cứu và sự tương trợ nhau trong khó khăn rất cao. Nhờ vậy việc học tập đạt kết quả tốt. Các hoạt động văn nghệ, thể thao được tổ chức chu đáo làm cho phong trào Ban Địa lý sớm được chú ý trong toàn trường. Đến khoảng năm 1959 - 1960, Ban Địa lý tách khỏi khoa Sử Địa và nhập với hai ban Hoá và Sinh thành khoa Hoá - Sinh - Địa. Tuy nhiên, sự hình thành một khoa ghép lúc này chỉ có tác dụng về mặt quản lý của nhà trường mà không ảnh hưởng gì đến chương trình đào tạo và phương pháp dạy học.

Ban Địa lý được hình thành và sớm ổn định, một phần lớn là do công lao của các thầy trong giai đoạn này. Cần phải thấy rằng, hầu hết các thầy tham gia xây dựng khoa trong thời kì đầu tiên đều không được đào tạo về địa lý. Sự cố gắng nghiên cứu đi sâu vào một lĩnh vực chuyên môn mới, sự đồng tâm nhất trí và lòng nhiệt tình của các thầy trong giảng dạy đã tạo ra sức mạnh chung thúc đẩy sự phát triển của cả Ban Địa lý.

Trong số các thầy sáng lập khoa, trước hết phải kể đến thầy Nguyễn Đức Chính. Thầy nguyên là giáo viên Toán ở trường trung học (từ năm 1926). Do hoạt động yêu nước, Thầy bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo (1930-1936) cùng với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Linh..., rồi bị thực dân Pháp quản thúc ở Nam Định từ năm 1936 đến khi Cách mạng tháng Tám thành công. Thầy đã là giảng viên triết học ở Dự bị Đại học khu IV. Khi về Ban Địa lý, với khả năng của mình, thầy đã nhanh chóng đi sâu vào Địa lý học, lãnh đạo Ban Địa lý, là người xây dựng hai môn học chính là Địa lý tự nhiên Việt Nam và Phương pháp giảng dạy Địa lý và đặt nền móng cho sự phát triển khoa học Địa lý ở nước ta nói chung. Thầy là người Chủ nhiệm khoa đức độ, có lòng bao dung, lại giỏi về chuyên môn nên đã tập hợp được lực lượng cán bộ và được các thế hệ học trò quý mến. Với uy tín về chuyên môn và công lao xây dựng Khoa và ngành Địa lý ở nước ta, thầy được các nhà khoa học trong và ngoài nước tôn vinh là giáo sư, là “Hội viên danh dự” Hội Địa lý Liên Xô (1969), được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân và Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 1991).

Các thầy Đào Bá Cương, Hoàng Thiếu Sơn, Trần Đình Gián, Lê Bá Thảo đều là những thầy thuộc thế hệ đầu tiên và có những đóng góp quan trọng về nhiều mặt cho việc xây dựng khoa Địa lý.

Thầy Đào Bá Cương là một trí thức yêu nước, đã từng là Uỷ viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thầy đã đỗ hai bằng Tiến sĩ về Kinh tế học và Luật học ở Pháp. Sau hoà bình năm 1954, thầy đã từ chối các lời mời đi Nam để dạy ở trường đại học ở Sài Gòn. Theo lời mời của Giáo sư Phạm Huy Thông, thầy đã về công tác tại Ban Địa lý, suốt đời đem hết nhiệt tình và tri thức dạy cho các thế hệ sinh viên về Địa lý kinh tế thế giới.

Thầy Trần Đình Gián vốn là sinh viên Đại học Luật Hà Nội (trước Cách mạng), từng giữ nhiều trọng trách trước khi về Ban Địa lý như đại diện Nha Giáo dục Trung bộ (khu IV) ở Nghệ Tĩnh, Hiệu trưởng trường Sư phạm trung cấp khu IV. Thầy có nhiều công lao trong việc phát triển Địa lý kinh tế Việt Nam, những vấn đề về phân vùng kinh tế. Thầy là Chủ nhiệm khoa trong thập kỷ 70, và ở độ tuổi 62 (năm 1978), Thầy giữ trách nhiệm là Trưởng Ban Địa lý, Ủy ban Khoa học xã hội, là người sáng lập ra Trung tâm Địa lý nhân văn (Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia) hiện nay. Thầy được Nhà nước phong hàm Giáo sư và danh hiệu Nhà giáo nhân dân.

Thầy Hoàng Thiếu Sơn không chỉ là một nhà Địa lý có học vấn uyên bác, một nhà sư phạm tài giỏi, mà còn là một diễn giả nổi tiếng về nhiều lĩnh vực, một dịch giả văn học đã dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng như Chiến tranh và Hoà bình, Những linh hồn chết, Yơxta Berling, Bộ tổng tham mưu Xô viết trong chiến tranh, Những tấm lòng cao cả... Các cuốn sách Địa lý đại cương (tập I do Thầy trước tác, tập II đồng tác giả) viết từ thập kỷ 60, đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị và là một mẫu mực của giáo trình địa lý Đại học Sư phạm. Các thế hệ học trò của Thầy và đông đảo các nhà trí thức đã từng làm việc với Thầy đều kính trọng gọi Thầy là Giáo sư. Thầy được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân.

Thầy Lê Bá Thảo có nhiều công lao phát triển chuyên ngành địa mạo học ở Việt Nam và khoa học về tổ chức lãnh thổ. Thầy đã để lại những công trình nổi tiếng như Thiên nhiên Việt Nam, Việt Nam - lãnh thổ và các vùng địa lý. Thầy là vị Chủ tịch Hội địa lý Việt Nam đầu tiên và đã giữ cương vị này ba khoá liền (từ 1988 đến tháng 10 năm 2000). Thầy được Nhà nước phong hàm Phó giáo sư đợt đầu (1984) và danh hiệu Nhà giáo ưu tú...

Mỗi khi nghĩ về quá trình phát triển của khoa, các cựu sinh viên đã từng được học các thầy không bao giờ quên được hình ảnh và công lao các thầy trong sự nghiệp xây dựng và phát triển khoa Địa lý.

2.1.2 Thời kỳ hình thành một khoa độc lập

Bước sang thời kỳ này, nhờ có số sinh viên tốt nghiệp được giữ lại, lực lượng cán bộ của khoa tăng lên nhanh chóng.

Cho đến cuối năm 1962, số lượng cán bộ giảng dạy đã lên tới 30 người. Vì thế, ngày từ năm 1959 - 1960 đã bắt đầu thành lập các tổ, nhóm chuyên môn khác nhau, như các tổ Địa lý tự nhiên đại cương, Địa lý tự nhiên Việt Nam, Địa lý kinh tế Việt Nam... Số lượng cán bộ các tổ nhóm không đồng đều, song chế độ sinh hoạt chuyên môn rất chặt chẽ. Đến khoảng năm 1962 - 1963 ban Địa lý tách khỏi khoa Hoá - Sinh - Địa và trở thành một khoa độc lập.

Song song với việc thành lập các tổ nhóm chuyên môn, việc hoàn thiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và tổ chức nghiên cứu khoa học cho cán bộ trở thành vấn đề cấp bách. Ngay từ năm học 1959 - 1960 được sự đồng ý của Bộ Giáo dục và trường ĐHSP Hà Nội, hai chuyên gia địa lý Liên Xô đã sang làm việc tại khoa Địa lý. Đó là Phó giáo sư M. A. Zubasencô chuyên về địa mạo, Địa lý tự nhiên, Phó giáo sư A.A Côxiacốp chuyên về Địa lý kinh tế và Phó Giáo sư Evtiev chuyên về bản đồ. Hàng tuần ngoài giờ dạy cho sinh viên, cán bộ của khoa lại theo học các chương trình về Địa mạo học, Địa lý tự nhiên, Phân vùng địa lý tự nhiên, Cơ sở Địa lý kinh tế và Địa lý kinh tế các ngành. Đây là chương trình ở mức sau đại học và kéo dài trong 3 năm. Cùng với học lý thuyết, Khoa đã tổ chức các đợt nghiên cứu thực địa với sự hướng dẫn của các chuyên gia nói trên.

Kết thúc lớp học này, từ năm 1961 trở đi, khoa Địa lý cử một loạt cán bộ sang Liên Xô bồi dưỡng sâu về chuyên môn trong thời gian 2 - 3 năm nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Đến năm 1964 hầu hết cán bộ gửi đi bồi dưỡng đều trở về nước. Đội ngũ cán bộ giảng dạy lúc này đã thực sự lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng.

Về nghiên cứu khoa học, do nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên công tác phân vùng địa lý tự nhiên rất được chú ý. Tuy lực lượng cán bộ còn mỏng nhưng dưới sự chỉ đạo của thầy Nguyễn Đức Chính, khoa Địa lý đã phối hợp với Ủy ban khoa học nhà nước (nay là Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường) tiến hành nghiên cứu phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Việt Nam, mà kết quả đã được công bố trong công trình “Phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Việt Nam (phần miền Bắc)” (1970).

Về chương trình đào tạo, theo chủ trương của Bộ và nhà trường, đến năm học 1962 - 1963 bắt đầu xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo theo hệ 3 năm. Việc chuyển tiếp được tiến hành bằng cách lựa chọn một số sinh viên tốt nghiệp hệ 2 năm học tiếp năm thứ 3. Nhờ có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, chương trình lần này được soạn thảo công phu hơn. Mặt khác do trường Đại học Tổng hợp Hà Nội chưa có khoa Địa lý, nên chương trình của Khoa còn coi trọng cả nhiệm vụ nghiên cứu. Một số môn học được đưa thêm vào như địa mạo, khí hậu, thuỷ văn; còn trong các chuyên đề nâng cao có thêm: vấn đề phân vùng địa lý tự nhiên, khí hậu nông nghiệp.

Theo chủ trương của Bộ Giáo dục, phương châm đào tạo là phải gắn lý thuyết với thực hành, gắn trường sư phạm với trường phổ thông và gắn nhà trường với lao động sản xuất. Thực hiện phương châm đó, hàng tuần sinh viên xuống các trường phổ thông, đến các xưởng sản xuất do nhà trường tổ chức.

Như vậy, trong thời kỳ 1960 - 1965, từ một Ban bé nhỏ, khoa Địa lý đã có đội ngũ vững vàng về chuyên môn, có chương trình tương đối hoàn thiện với một số giáo trình. Tinh thần thi đua giữa các tổ, nhóm chuyên môn rất sôi nổi tạo ra một phong trào dạy tốt, học tốt nổi bật trong toàn trường. Khoa Địa lý trở thành đơn vị khoa độc lập, một trong những đơn vị tiên tiến của trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

2.2. Giai đoạn phát triển trong điều kiện sơ tán (1965 - 1974)

 Thực hiện âm mưu ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam, ngày 5 tháng 8 năm 1965 đế quốc Mỹ cho máy bay oanh tạc một số nơi, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt. Để đối phó với âm mưu này, ở các thành phố, nhất là Hà Nội, các cơ quan trường học, cơ sở sản xuất công nghiệp phải sơ tán về vùng nông thôn.

Khai giảng năm học 1965 - 1966, nhà trường thể hiện quyết tâm vừa đào tạo vừa sẵn sàng chiến đấu trong tình hình mới và thực hiện lệnh sơ tán của UBND Thành phố. Để việc tổ chức sơ tán được gọn nhẹ, trường ĐHSP Hà Nội lúc đó phải tách thành 3 trường: trường ĐHSP Hà Nội I (gồm các khoa xã hội), trường ĐHSP Hà Nội II (gồm các khoa tự nhiên) và trường ĐHSP III (gồm các khoa ngoại ngữ).

Cùng với toàn trường, khoa Địa lý tích cực chuẩn bị về mọi mặt và ngày 20- 9-1965 toàn thể cán bộ và sinh viên lên đường đến nơi sơ tán. Trên chuyến ca nô suốt đêm trên sông Hồng, sáng ngày 21 - 9 - 1965 đoàn cán bộ và sinh viên khoa Địa lý đã đến xã Trường Chinh, huyện Phù Cừ - tỉnh Hưng Yên. Đây là địa điểm đầy ắp kỷ niệm với thầy trò khoa Địa lý suốt 3 năm liền (1965 - 1968). Đến tháng 9 năm 1968, khoa Địa lý chuyển về xã Đình Dù và xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, Hưng Yên.

Về đến xã Trường Chinh các khối sinh viên được chuyển về 3 thôn và ở trong nhà dân. Bếp ăn và lớp học buổi đầu dựa vào nhà dân, sau đó xây dưng riêng xen vào trong thôn xóm. Từ cuộc sống, làm việc và học tập nơi đô thị, nay về sống với nhân dân, cán bộ và sinh viên đã nhanh chóng tạo nên nếp sống mới để hoà nhập với cuộc sống của từng gia đình. Mặt khác, cán bộ và sinh viên vừa làm việc, học tập, vừa sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ trật tự an ninh thôn xóm.

Để thích ứng với điều kiện sống và làm việc phân tán, khoa lúc đó trở thành một đơn vị độc lập, chịu trách nhiệm quản lý sinh viên toàn diện. Trong điều kiện đó, ngoài bộ phận cán bộ giảng dạy, khoa Địa lý có thêm bộ phận y tế, tài vụ, quản lý nhà ăn.

Để cho việc quản lý thuận lợi, mỗi khối sinh viên sống tập trung ở một thôn do một chủ nhiệm khối chịu trách nhiệm và cũng thực hiện việc quản lý về mọi mặt (giảng dạy, học tập, ăn ở, sinh hoạt, trị an). Chủ nhiệm khối còn có vai trò thay mặt khoa liên hệ với nhân dân, phối hợp hoạt động giữa khoa và địa phương.

 

 

 

 

 

 


Trong quá trình sống với dân vào những năm sơ tán, thầy trò được cán bộ và nhân dân địa phương yêu quý và hết sức giúp đỡ. Tình cảm giữa nhân dân với sinh viên và cán bộ giảng dạy ngày càng gần gũi, thân thiết. Đến nay, tuy mấy chục năm trôi qua, nhưng những hình ảnh về nhân dân nơi sơ tán vẫn không phai mờ trong tâm khảm mỗi người.

Trong hoạt động nơi sơ tán, dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc phối hợp giữa các tổ chức trong khoa, chính quyền công đoàn, lực lượng tự vệ, đoàn thanh niên và tổ chức chuyên môn hết sức chặt chẽ. Mọi hoạt động của khoa đi vào nề nếp. Lúc đó đã nổi lên những tấm gương tiêu biểu của một số đảng viên và quần chúng lăn lộn với phong trào, sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó khăn. Cũng trong giai đoạn này, nhất là vào các năm 1970 đến 1972, hàng trăm cán bộ giảng dạy và sinh viên khoa Địa lý đã lên đường ra mặt trận. Trong thời kì chống Mỹ cứu nước, hàng chục đồng chí đã bị thương, 6 đồng chí đã hy sinh ngoài mặt trận là:

- Đặng Ninh (khoá 1966-1969), cán bộ giảng dạy, hy sinh năm 1973.

- Nguyễn Đức Tú (Lớp trưởng khoá 1962-1965), hy sinh năm 1966.

- Phạm Quang Hải (khoá 1968-1972), hy sinh năm 1972.

- Hoàng Chiến (khoá 1970-1974), hy sinh năm 1973.

- Nguyễn Văn Nhiệt (khoá 1968-1972), hy sinh năm 1972.

- Lê Xuân Mao (khoá 1968-1972), hy sinh năm 1973.

Về công tác đào tạo, trong giai đoạn này có những thay đổi về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy. Từ đó cả chương trình lẫn việc tổ chức, quản lý đào tạo cũng có những biến đổi tương ứng.

Về chương trình, ở thời kỳ đầu vẫn tiếp tục thực hiện chương trình 3 năm được triển khai từ năm 1962. Năm học 1967 - 1968 khoa Địa lý bắt đầu thảo luận xây dựng chương trình hệ 4 năm. Trong chương trình đào tạo mới, ba hướng được chú trọng là: Địa lý tự nhiên tổng hợp, Địa lý kinh tế Việt Nam và Địa mạo học. Mặt khác, một số môn mới gắn với khoa học cơ bản như Toán, Lý, Hoá, Sinh và Những vấn đề cơ bản của Địa lý tự nhiên và Địa lý kinh tế đã được đưa vào.

Về mặt tổ chức, Khoa Địa lý có 4 tổ bộ môn:

- Tổ Địa lý cơ sở (gồm Địa chất, Địa lý tự nhiên và Cơ sở Địa lý kinh tế)

- Tổ Địa lý tự nhiên (gồm nhóm Tự nhiên Việt Nam, Tự nhiên các châu)

- Tổ Địa lý kinh tế (gồm nhóm ĐLKT Việt Nam và ĐLKT thế giới).

- Tổ Giáo - Hành - Đồ (gồm nhóm Giáo học pháp, Hành chính và Bản đồ).

Vào năm học 1967 - 1968 có sự điều chỉnh lại các tổ. Nhóm hành chính tách khỏi tổ Giáo - Hành - Đồ, lập ra tổ Hành chính cấp dưỡng.

Sau hai năm thí điểm (chương trình 3 + 1), năm học 1968 - 1969 bắt đầu thực hiện chương trình mới, khoa được bổ sung cán bộ giảng dạy khoa cơ bản và biên chế thành 9 tổ chuyên môn (không kể tổ Hành chính). Đó là các tổ Địa lý tự nhiên cơ sở, ĐLTN Việt Nam, ĐLTN các châu, Cơ sở địa lý kinh tế, ĐLKT Việt Nam, ĐLKT thế giới, Bản đồ, Khoa học cơ bản và Giáo học pháp. Trong các tổ chuyên môn nói trên, khoa chú ý xây dựng tổ Giáo học pháp, nên đã tăng cường cho tổ hai cán bộ giảng dạy (Nguyễn Văn Thọ và Đặng Ngọc Lân (A)).

Trong chỉ đạo thực hiện chương trình, Khoa đã chú trọng tới việc tinh giản nội dung, tăng cường thực hành chuyên môn và nghiệp vụ. Số giờ thực địa chiếm tới 1/4 tổng số giờ của cả khoá đào tạo và thời gian thực địa được gọi là học kỳ III của cả năm học. Về nội dung thực địa, bắt đầu đưa phương pháp nghiên cứu cảnh quan vào chương trình năm thứ 2. Về nghiệp vụ, ngoài chương trình thực tập sư phạm vào năm thứ 4, hàng năm có hai tuần đi thực tế ở các trường phổ thông cơ sở. Cũng trong giai đoạn này Khoa Địa lý giúp Lào xây dựng ngành sư phạm và đào tạo giáo viên địa lý. Một tổ đặc phái giúp bạn được thành lập do nhà giáo Lê Trọng Túc làm tổ trưởng.

Công tác nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng cán bộ cũng được tiến hành tích cực. Hàng năm cán bộ giảng dạy phải đăng ký đề tài, báo cáo kết quả nghiên cứu tại các hội nghị khoa học của tổ và của Khoa. Khoa đã lập kế hoạch bồi dưỡng cán bộ theo hai mức cấp I và cấp II (cấp II tương đương với PTS).

Như vậy, mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh có nhiều khó khăn, nhưng nhờ chủ trương đúng đắn và sự lãnh đạo chặt chẽ nên việc đào tạo và nghiên cứu khoa học đạt được kết quả tốt.

Các sinh viên ra trường hầu hết trở thành thầy giáo, cô giáo mẫu mực, thích nghi với hoàn cảnh khó khăn của đất nước. Đối với cán bộ đã hình thành nề nếp giảng dạy, nghiên cứu khoa học nghiêm túc, với tinh thần giúp đỡ lẫn nhau.

2.3. Giai đoạn trước Đổi mới (1975 - 1989)

Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giang sơn thu về một mối, nước ta chuyển từ thời chiến sang thời bình. Tuy không còn chiến tranh, nhưng hàng loạt thử thách đang đặt ra trước mắt. Đây cũng là thời kì đời sống nhân dân có nhiều khó khăn, đặc biệt là vào cuối thập kỷ 80.

Khoa Địa lý sau khi chuyển từ nơi sơ tán về lại trường, ngoài những khó khăn chung về cơ sở vật chất, nơi ăn ở học hành còn có một số khó khăn riêng, nhất là đội ngũ cán bộ. Sau giải phóng, có 6 cán bộ chuyển đi tăng cường cho các trường Đại học Sư phạm ở miền Nam và 4 cán bộ cho Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II (Xuân Hoà).

Để bổ sung lực lượng, Khoa nhận thêm một số cán bộ công tác chuyên trách của Đảng, Đoàn, giáo vụ tại khoa làm cán bộ giảng dạy.

Chương trình đào tạo tiếp tục thay đổi theo hướng tinh giản vững chắc, thiết thực. Một số môn khoa học cơ bản như Lý, Hoá, Sinh đã được rút bỏ. Các môn học liên quan đến các hợp phần của tự nhiên được tinh giản và hợp nhất lại thành môn Địa lý tự nhiên đại cương (hay Cơ sở địa lý tự nhiên). Ngược lại, một số môn mới được đưa vào chương trình đào tạo như Cơ sở kỹ thuật công nghiệp, Địa lý địa phương.... Những thay đổi nói trên nhằm giúp sinh viên có được hệ thống kiến thức vững chắc, cập nhật để có thể thích nghi với các điều kiện công tác khác nhau. Thông qua việc xây dựng chương trình, những quan điểm Địa lý hiện đại dần dần được thống nhất. Điều đó thể hiện rõ trong cấu trúc chương trình và là cơ sở để xây dựng hệ thống giáo trình có chất lượng. Chương trình này bắt đầu được xây dựng từ năm học 1981-1982.

Ngoài chương trình đào tạo Đại học, Khoa đã đào tạo đại trà hệ Cao học với số lượng ngày càng nhiều theo một số chuyên ngành. Có thể coi đây là một bước phát triển mới trong đào tạo và vị thế của Khoa ngày càng được nâng cao.

Do có sự biến động về đội ngũ cán bộ và thay đổi về chương trình, các tổ chuyên môn đã được sắp xếp lại. Vào năm học 1974 - 1975, khoa Địa lý có 4 tổ chuyên môn:

- Tổ Địa lý tự nhiên cơ sở (gồm Địa chất và ĐLTN đại cương).

- Tổ Địa lý tự nhiên khu vực (gồm ĐLTN Việt Nam và ĐLTN các châu).

- Tổ Địa lý kinh tế (gồm Cơ sở ĐLKT, ĐLKT Việt Nam và ĐLKT thế giới).

- Tổ Nghiệp vụ (gồm Giáo học pháp và Bản đồ học).

Công tác bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn này có những chuyển biến rõ rệt. Nhiều cán bộ trong khoa đã vượt qua kỳ thi tuyển nghiên cứu sinh, bảo vệ thành công luận án PTS ở nước ngoài rồi quay trở về công tác. Đó là các nhà giáo Đỗ Hưng Thành (1974), Huỳnh Thị Cả (1974), Lê Thông (1979), Nguyễn Minh Tuệ (1981), Nguyễn Thục Nhu (1984), Vũ Tuấn Cảnh (1985), Nguyễn Viết Thịnh (1988), Lê Thị Hợp (1986).

Việc bồi dưỡng cán bộ trong nước cũng được đẩy mạnh mà người tiên phong trong lĩnh vực này là nhà giáo Vũ Tự Lập. Vào cuối năm 1975, nhà trường đã tổ chức bảo vệ luận án PTS của nhà giáo Vũ Tự Lập về Cảnh quan miền Bắc Việt Nam. Đây là luận án PTS trong nước đầu tiên được bảo vệ thành công ở khoa Địa lý.

Từ năm 1976, Bộ Giáo dục chính thức công nhận khoa Địa lý là một cơ sở đào tạo Sau đại học. Cuối năm 1976, một số cán bộ đã bảo vệ luận văn cấp I. Đến năm 1978, khoa Địa lý đã xây dựng quy hoạch cán bộ, phân loại theo yêu cầu bồi dưỡng chuyên môn để chuẩn bị cho việc chuẩn hoá đội ngũ cán bộ giảng dạy. Một số đăng ký làm NCS và một số khác tiến hành bồi dưỡng cấp I. Đến năm học 1980-1981, hầu hết số cán bộ bồi dưỡng cấp I đã bảo vệ xong luận văn của mình. Năm 1986, cả 5 NCS trong nước khoá I đã bảo vệ thành công luận án PTS. Đó là các nhà giáo: Nguyễn Trọng Lân, Nguyễn Giang Tiến, Nguyễn Kim Chương, Ông Thị Đan Thanh, Ngô Văn Nhuận. Một số nhà giáo đã được phong học hàm PGS (các thầy Trần Đình Gián, Lê Bá Thảo, Vũ Tự Lập, Nguyễn Dược, Đỗ Hưng Thành được phong năm 1984).

Chính sự thành công trong việc bồi dưỡng cán bộ ở giai đoạn này đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Song song với việc bồi dưỡng chuyên môn, công tác nghiên cứu khoa học được đẩy lên một tầm cao mới. Ngay từ cuối thập kỷ 70, đông đảo cán bộ đã tham gia nghiên cứu khoa học, trong đó một số nhận trọng trách chủ nhiệm các đề tài cấp nhà nước (Thầy Lê Bá Thảo, TS. Vũ Tự Lập, TS. Đỗ Hưng Thành, TS. Huỳnh Thị Cả).

Về hợp tác quốc tế, ngoài việc đào tạo trong khoa, giúp đỡ các trường mới thành lập trong nước, nhiều cán bộ được cử đi dạy ở nước ngoài, đặc biệt là ở Lào, Cămpuchia và Ăngôla. Khoa Địa lý cũng nhận đào tạo nhiều sinh viên, NCS Lào và Cămpuchia.

Tóm lại, trong giai đoạn này mặc dù gặp nhiều khó khăn khách quan cộng với sự thay đổi về chương trình và đội ngũ cán bộ, nhưng khoa Địa lý đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Trình độ của cán bộ giảng dạy được nâng lên về chất, nhiều giáo trình (trong đó có một số giáo trình dùng chung cho các trường Đại học) đã được xuất bản, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của khoa Địa lý.

2.4. Giai đoạn của sự Đổi mới (từ 1990 đến 2001)

Công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội của đất nước đã mở ra một thời kì mới. Trong bối cảnh đó, khoa Địa lý đã phát triển mạnh theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu trên cơ sở nắm bắt các yếu tố: "Thiên thời- Địa lợi- Nhân hoà".

Về đào tạo, từ cuối giai đoạn trước và đầu giai đoạn này, thực hiện chủ trương của Bộ và Nhà trường, khoa Địa lý chuyển từ việc đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học phần. Chương trình mới đào tạo theo học phần về cơ bản là sự kế thừa chương trình được xây dựng vào đầu thập niên 80, nhưng có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới. Đáng lưu ý hơn cả là các học phần liên quan đến kinh tế - xã hội. Đó là sự thay đổi lớn về quan điểm, nội dung và phương pháp giảng dạy để thích hợp với công cuộc Đổi mới của đất nước và chương trình Cải cách giáo dục ở trường phổ thông.

Tuy nhiên, chương trình này chỉ được thực hiện cho đến năm học 1994-1995. Từ năm học 1995-1996, Khoa Địa lý lại có sự điều chỉnh chương trình đào tạo theo hai giai đoạn theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Sau khi trường ĐHSP tách khỏi ĐHQG Hà Nội, một lần nữa chương trình đào tạo được xây dựng lại. Năm 1999, Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ cho khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội thiết kế chương trình khung đào tạo cử nhân Địa lý chung cho toàn quốc. Sau nhiều Hội thảo, một Hội nghị về chương trình đào tạo diễn ra tại Huế năm 2000 với sự có mặt của đại diện tất cả các khoa Địa lý thuộc các trường Đại học Sư phạm trong cả nước. Chương trình mới này bắt đầu được thực hiện tại Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ năm học 2000-2001.

Việc đào tạo sau đại học có những bước phát triển mới. Sau 14 khoá đào tạo sau Đại học, từ năm học 1991-1992, hệ đào tạo này được chuyển thành hệ Cao học (thạc sĩ). Tính đến năm 2001, Khoa Địa lý đã đào tạo 14 khoá Sau đại học và 10 khoá Cao học (khoá cao học 11 đã tựu trường). Chương trình đào tạo Cao học hiện hành của khoa Địa lý gồm 4 chuyên ngành: Địa lý Tự nhiên, Địa lý Kinh tế- Chính trị, Phương pháp giảng dạy Địa lý và Địa lý-Giáo dục dân số.

Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, công tác đào tạo NCS đã đạt được những thành tựu rực rỡ với 3 mã số chuyên ngành: Địa lý Tự nhiên, Địa lý Kinh tế- Chính trị và Phương pháp giảng dạy địa lý. Tính đến tháng 9 năm 2001 đã có 66 luận án PTS (nay gọi là TS) của cán bộ trong và ngoài khoa bảo vệ thành công tại khoa Địa lý. Trong số này 57/66 luận án đã bảo vệ trong thời kỳ 1991-2001. Về số lượng luận án đã bảo vệ thành công tại trường ĐHSP Hà Nội, khoa Địa lý chỉ đứng sau khoa Ngữ văn.

Sự phát triển mạnh mẽ trong công tác đào tạo cao học và nghiên cứu sinh góp phần thúc đẩy cán bộ trong khoa tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiên cứu khoa học và mở rộng hợp tác với nhiều cơ quan khoa học ở trong và ngoài nước. Nhiều công trình nghiên cứu và hàng loạt các bài báo khoa học được công bố đã phản ánh sự phát triển của Địa lý học trong giai đoạn đổi mới.

Công tác nghiên cứu khoa học phát triển mạnh cả về khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng và khoa học giáo dục. Nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp Bộ (hay tương đương) đã được triển khai với sự đóng góp có hiệu quả của đội ngũ cán bộ giảng dạy.

Khoa Địa lý đã có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn ở nhà trường phổ thông. Hầu hết sách giáo khoa Địa lý từ bậc trung học cơ sở đến bậc trung học phổ thông theo chương trình Cải cách giáo dục và chương trình phân ban, sách giáo viên, các tài liệu bồi dưỡng giáo viên đều do cán bộ trong khoa biên soạn.

Để ghi nhận những đóng góp trong nghiên cứu khoa học và đào tạo, Nhà nước đã phong học hàm cho một số cán bộ giảng dạy của Khoa:

- Giáo sư: Vũ Tự Lập, 1992.

- Phó giáo sư: Ngô Đạt Tam, Lê Thông, Nguyễn Phi Hạnh, Vũ Tuấn Cảnh (đợt năm 1991) và Nguyễn Viết Thịnh, Nguyễn Minh Tuệ, Lê Huỳnh, Đặng Duy Lợi (đợt năm 1996).

Về mặt tổ chức, để tăng cường sức mạnh của các tổ bộ môn như là đơn vị cơ sở về đào tạo và nghiên cứu khoa học, các tổ bộ môn đã được sắp xếp lại theo hướng tổng hợp. Từ cuối giai đoạn trước cho đến nay, toàn khoa được chia thành 4 tổ bộ môn:

- Tổ Địa lý tự nhiên (gồm Địa lý tự nhiên đại cương, Địa lý tự nhiên Việt Nam và Địa lý tự nhiên các châu).

- Tổ Địa lý kinh tế (gồm Cơ sở ĐLKT, ĐLKT Việt Nam và ĐLKT thế giới).

- Tổ Bản đồ.

- Tổ Phương pháp giảng dạy.

Ngoài 4 tổ bộ môn còn có tổ giáo viên thực hành và Nhóm văn phòng (Giáo vụ, Tổ chức) cũng trong thời gian này, trung tâm Bản đồ giáo khoa được thành lập và sau đó chuyển thành trung tâm trực thuộc Bộ GD-ĐT.

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, việc quản lý đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học... của khoa Địa lý đã có sự đổi mới rõ rệt. Trên cơ sở quản lý mang tính hành chính, vai trò của các tổ bộ môn được tăng cường. Việc phân công phân nhiệm rõ ràng và đảm bảo sự hài hoà giữa trách nhiệm và quyền lợi của các thành viên trong khoa. Hiệu quả của công việc được lấy làm thước đo để đánh giá moi hoạt động của các cá nhân và các tập thể nhỏ trong Khoa. Vì thế, về cơ bản, mọi nhiệm vụ của khoa nói chung và của từng thành viên nói riêng đều được thực hiện có kết quả.

2.5. Giai đoạn từ 2001 đến 2006

2.5.1. Đào tạo:

a) Đào tạo cử nhân:

+ Số lượng sinh viên chính quy tại trường: 1200, Số lượng sinh viên đạt loại giỏi 55 Số lượng sinh viên được chuyển tiếp cao học: 30

+ Số lượng sinh viên chính quy theo địa chỉ: 470

+ Số lượng sinh viên chính quy cử tuyển: 30

+ Số lượng học viên chuyên tu, tại chức: 500

+ Số lượng học viên từ xa: 150

+ Số lượng học viên cao học: 285

+ Số lượng học viên NCS: 55

- Những hệ đào tạo mới, mã ngành mới được mở trong 5 năm qua

Khoa đã mở mã ngành mới đào tạo cử nhân Địa lý

- Đánh giá chất lượng đào tạo của các hệ

Các sinh viên do Khoa đào tạo hiện nay phần lớn là các giáo viên chủ chốt về Địa lý ở các trường Đại học, Cao đẳng, PTTH trong cả nước. Nhiều người là các cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong các Trường Đại học, Cao đẳng, các Sở Giáo dục và cả trong các cơ quan quản lý Nhà nước của các địa phương, ban ngành trung ương. Khoa còn cử cán bộ đi thỉnh giảng ở tất cả các trường Đại học Sư phạm trong cả nước.

- Những cải tiến, thay đổi về chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá... trong hoạt động đào tạo (ĐH&SĐH) của Khoa trong 5 năm qua.

Từ năm 2001- 2006 khoa đã xây dựng chương trình đào tạo cử nhân sư phạm địa lý, chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao, chương trình đào tạo cử nhân ngoài sư phạm, chương trình đào tạo sau đại học, chương trình khung giáo dục đại học ngành Địa lý cho các trường Đại học Sư phạm cả nước.

b) Đào tạo Thạc sĩ

Hệ thạc sĩ có các chuyên ngành: Địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế, giáo dục dân số, phương pháp giảng dạy địa lý và địa lý du lịch. Đến nay khoa đã đào tạo được 452 thạc sĩ. Chỉ tính từ năm 2001 đến nay, Khoa đã đào tạo 285 thạc sĩ.

c) Đào tạo Tiến sĩ

Đến tháng 10 năm 2006 đã có 87 nghiên cứu sinh của Khoa đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, trong đó có 18 cán bộ trong khoa, 64 cán bộ từ các cơ quan khoa học, các trường Đại học và Cao đẳng trong nước và 2 NCS Campuchia, 3 NCS Lào.

Chỉ tính từ năm 2001 đến nay, Khoa đã đào tạo thành công 30 tiến sĩ địa lý. Hiện nay 25 nghiên cứu sinh đang học tập và nghiên cứu tại khoa.

Là một cơ sở đào tạo sau đại học có uy tín trong nước, Khoa đã thu hút NCS và học viên cao học từ các trường đại học sư phạm, cao đẳng sư phạm trong cả nước, từ nhiều cơ quan nghiên cứu (Trung tâm KHXH và NVQG, Trung tâm KHTN và CNQG, Đại học KTQD, Học viện Hành chính Quốc gia, Viện Chiến lược phát triển, Viện Nghiên cứu khoa học giáo dục, Tổng cục Địa chính, Tổng cục Du lịch...). Các học viên cao học và nghiên cứu sinh tốt nghiệp đều đã trở thành các cán bộ nghiên cứu, các giáo viên giỏi, các cán bộ quản lý chủ chốt của nhiều cơ quan. Có người hiện là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng ĐHSP, Chủ nhiệm Khoa Địa lý của các trường ĐHSP Huế, ĐHSP Thành phố HCM, ĐHSP Đà Nẵng, ĐHSP Quy Nhơn, Vụ trưởng, Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch tỉnh, Hiệu trưởng Cao đẳng Sư phạm, Hiệu trưởng trường THPT, có người đã trở thành Giáo sư, Phó giáo sư.

2.5.2. Nghiên cứu khoa học

a. Đề tài cấp Nhà nước:

Chủ trì 14 đề tài, tham gia 20 đề tài. Chỉ tính từ năm 2001 đến nay đã tham gia 10 đề tài cấp Nhà nước, chủ trì các đề tài nhánh như: "Nguồn lợi hải sản và khả năng phát triển nghề cá tại các đảo lớn" và "Kinh tế - xã hội nghề cá" trong Dự án Nhà nước "Điều tra cơ bản nguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêu phát triển lâu bền ngành hải sản vùng gần bờ biển nước ta" (1996-98 và 1999-2001). Xây dựng cơ sở khoa học cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghề cá huyện Giao Thủy-tỉnh Nam Định NCCB 74-06-05; Nghiên cứu xây dựng giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý các dải cát ven biển miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận KC 08-21 Viện Địa lý v.v...

b. Đề tài cấp Bộ và Đại học Quốc gia:

Từ năm 2001 đến nay Khoa đã chủ trì 60 đề tài cấp Bộ, tham gia 32 đề tài cấp Bộ và tương đương.

c. Đề tài các cấp

Khoa đã chủ trì 16 đề tài cấp Trường, đã nghiệm thu đạt kết quả tốt. Nhiều đề tài được tiếp tục phát triển lên cấp cao hơn.

Ngoài ra, Khoa còn hỗ trợ, chủ trì một số đề tài nghiên cứu khoa học cho nhiều cơ quan khác như: Viện Địa lý (TT KHTN&CNQG), Viện Nghiên cứu và phát triển du lịch (TCDL), Ủy ban Quốc gia dân số - kế hoạch hóa gia đình, Đại học Công đoàn; thực hiện các đề tài nghiên cứu cho các địa phương (các tỉnh, huyện) về điều tra cơ bản, thành lập cơ sở dữ liệu địa lý, viết địa lý địa phương, địa phương chí...

Việc hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học được chú trọng với các trường, viện nghiên cứu ở Nga, CHLB Đức, Ấn Độ, Ôxtrâylia, Nauy, Thái Lan, Lào, Campuchia, Angola, Pháp. Một số cán bộ đã đọc báo cáo khoa học ở các Hội nghị khoa học, Hội thảo quốc tế và khu vực.

Chỉ tính từ năm 2001 đến nay, hàng trăm bài báo khoa học đã được đăng tải trên các tạp chí và các tập san khoa học ở Trung ương, các trường Đại học, các tạp chí của các Bộ ngành, các tạp chí khoa học ở nước ngoài (Ôxtrâylia, Nauy, Thái Lan...).

d. Về viết sách, chuyên khảo:

Chỉ tính riêng từ năm 2001 đến nay đã chủ biên và cho xuất bản trên 100 đầu sách, chủ yếu là các giáo trình cho Đại học và Cao đẳng, chuyên khảo về địa lý và các sách bồi dưỡng giáo viên.

Ngoài ra còn một số sách tham khảo, giáo trình viết cho Đại học Mở Hà Nội, Đại học Quản trị và kinh doanh Hà Nội, Đại học Huế...

Đã chủ biên và là tác giả của các bộ sách giáo khoa Địa lý THCS (lớp 6-9) và PTTH (lớp 10-12).

Các công trình, giáo trình và sách giáo khoa trên thực sự đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo từ Đại học đến phổ thông, bồi dưỡng cán bộ và ứng dụng vào đời sống xã hội.

e. Đã xây dựng và hoàn chỉnh các chuyên đề Tiến sĩ, chương trình khung và chương trình chi tiết đào tạo Thạc sĩ, được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt.

2.5.3. Xây dựng đội ngũ:

- Khoa đã mạnh dạn đề xuất và thực hiện kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, ở trong nước và nước ngoài, nên hiện nay, hầu hết các cán bộ giảng dạy trong khoa đã có học hàm, học vị.

- Đã tăng cường bồi dưỡng các chuyên đề cho cán bộ và chú trọng tự bồi dưỡng chuyên môn.

- Chú trọng tuyển dụng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ.

2.5.4. Xây dựng cơ sở vật chất

- Đã có 5 phòng thực hành thí nghiệm với các giáo trình thực hành tương ứng cho 5 bộ môn cơ bản.

- Hiện nay, các phòng thí nghiệm đang được đầu tư, nâng cấp, trong đó có một Phòng mạng máy tính. Phòng tư liệu và phòng đọc của Khoa được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu tham khảo của sinh viên.

- Bên cạnh đó, Trung tâm bản đồ giáo khoa, Trung tâm Địa lý ứng dụng đã xuất bản được nhiều bản đồ, tranh ảnh, băng hình, đĩa CD-ROM tư liệu địa lý phục vụ có hiệu quả công tác đào tạo của khoa và giáo dục phổ thông.

- Đã xây dựng một trang Web của khoa: http://dialy.dhsphn.edu.vn

- Đào tạo trực tuyến E-Learning

2.5.5. Đánh giá chung

Khoa Địa lý là một trong những khoa đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy – học.

Là một trong các khoa đứng đầu về đào tạo sau đại học: 452 thạc sĩ, 87 nghiên cứu sinh. Hiện nay có 25 nghiên cứu sinh đang học tập và nghiên cứu tại khoa.

Là một trong các khoa có liên kết hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học với nhiều Trường Đại học, Viện nghiên cứu: các trường, viện nghiên cứu ở Nga, CHLB Đức, ấn Độ, Ôxtrâylia, Nauy, Thái Lan, Lào, Campuchia, Angola, Pháp.

2.6. Quá trình khen thưởng

2.6.1. Khen thưởng của đơn vị

a. Huân chương cao nhất gần đây:

Huân chương Lao động hạng Hai: 2001

b. Khen thưởng trong 5 năm gần đây:

- Bằng khen của Bộ GD&ĐT: 2001, 2003, 2005

- Tạp thể Lao động xuất sắc: 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005

2.6.2. Tập thể, cá nhân thuộc đơn vị

- Bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ: 02

- Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo: 20

- Bằng khen của TƯ Hội Phụ nữ Việt Nam: 04

- Nhà giáo Nhân dân: 03

- Nhà giáo Ưu tú: 02

- Huân chương Độc lập: 01

- Huân chương Lao động hạng 3: 01

- Huân chương Kháng chiến chống Pháp và Chống Mỹ cứu nước: 48

- Huân, huy chương Hữu nghị của Lào và Campuchia: 10

- Danh hiệu thi đua:

+ Danh hiệu CSTĐ: năm 2001: 7 (15,5%); năm 2002: 8 (17,7%); năm 2003: 7 (15,5%); năm 2004: 8 (17,7%); năm 2005: 8 (17,7%), năm 2006: 12 (27%).

+ Danh hiệu LĐG: năm 2001: 33 (73,3%); năm 2002: 33 (73,3%); năm 2003: 32 (71,1%); năm 2004: 33 (73,3%); năm 2005: 32 (71,1%), năm 2006: 32 (71,1%).

+ Danh hiệu TTLĐXS: năm 2001: 2 (33,3%) năm 2002: 2 (33,3%); năm 2003: 2 (33,3%); năm 2004: 2 (33,3%); năm 2005: 2 (33,3%), năm 2006: 2 (33,3%).

+ Danh hiệu TTLĐG: năm 2001: 4 (66,6%); năm 2002: 4 (66,6%); năm 2003: 4 (66,6%); năm 2004: 4 (66,6%); năm 2005:4 (66,6%), năm 2005: 4 (66,6%).

+ Năm 2006 Khoa đã được nhà trường đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo đệ trình Nhà nước xét tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất.

2.7. Kế hoạch và chiến lược phát triển của đơn vị trong giai đoạn (2006-2010)

2.7.1. Chiến lược chung

- Tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và đào tạo.

- Đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học.

- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ.

2.7.2. Về đào tạo:

Ổn định quy mô đào tạo bậc đại học hệ chính quy tập trung như hiện nay, mở rộng quy mô đào tạo thạc sĩ và nghiên cứu sinh. Đa dạng hoá các loại hình đào tạo (tại chức, từ xa, chuyên tu, đào tạo giáo viên thực hành và bồi dưỡng giáo viên, đào tạo ngắn hạn do Đại học Sư phạm Hà Nội cấp chứng chỉ). Phát triển các chuyên ngành mũi nhọn, mở thêm chuyên ngành mới. Nâng cấp chất lượng đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học, giữ vững vị trí đầu đàn trong hệ thống các trường sư phạm cả nước.

2.7.3. Về khoa học công nghệ:

Triển khai cả trên các hướng như nghiên cứu cơ bản (chủ trì và tham gia các chương trình, đề tài nghiên cứu cơ bản cấp Nhà nước, cấp Bộ và tương đương), ứng dụng (phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương), giáo dục (biên soạn các tài liệu bồi dưỡng giáo viên, các sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, chuyên khảo, các sản phẩm giáo dục khác). Thực hiện các Dự án phát triển các phần mềm và các cơ sở dữ liệu phục vụ đào tạo và quản lý lãnh thổ, tài nguyên, môi trường. Các sản phẩm này sẽ kịp thời được đưa vào sản xuất thử nghiệm và chuyển giao cho người sử dụng.

2.7.4. Về hợp tác quốc tế:

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các trường đại học, viện nghiên cứu ở Ôxtrâylia, các nước trong khu vực ASEAN, đặc biệt là Thái Lan, Lào, Campuchia, với Trung Quốc và với EU trên các lĩnh vực về giáo dục và quản lý tài nguyên.

II. NHỮNG VỤ MÙA BỘI THU...

Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà Nội đến nay vừa tròn 50 tuổi. Đối với lịch sử của một khoa, quãng thời gian ấy đâu phải là dài. Trong quá trình xây dựng và phát triển, thầy trò Khoa Địa lý thế hệ sau tiếp bước thế hệ trước cùng nhau đồng tâm hợp lực với mục tiêu chung là giữ vững lá cờ đầu về Địa lý trong ngành sư phạm của cả nước. Nhìn lại chặng đường đã qua, Khoa Địa lý có quyền tự hào về những vụ mùa bội thu trên mọi lĩnh vực, mà trước hết là công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng đội ngũ v.v...

1. Ngọn cờ đầu của ngành Địa lý sư phạm cả nước

Từ mùa thu năm 1956 đến nay, mục tiêu đào tạo của Khoa Địa lý ngày càng hoàn thiện với nhiệm vụ ngày một đa dạng hơn, cao hơn phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trong mỗi giai đoạn. Một số nhiệm vụ chủ yếu gồm:

- Đào tạo giáo viên địa lý có chất lượng cho phổ thông trung học, đồng thời góp phần đào tạo cán bộ giảng dạy và nghiên cứu thuộc lĩnh vực này cho các trường Đại học, Cao đẳng và các cơ quan nghiên cứu ở Trung ương và địa phương.

- Nghiên cứu khoa học (cơ bản, ứng dụng, giáo dục) và vận dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn (kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo) của đất nước.

- Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về địa lý cho cán bộ từ các nguồn khác nhau, và đặc biệt là cho đội ngũ giáo viên ở phổ thông...

Trên cơ sở này, Khoa Địa lý đã trở thành ngọn cờ đầu trong ngành Địa lý Sư phạm của toàn quốc.

1.1. Khoa Địa lý là cơ sở hàng đầu về đào tạo giáo viên địa lý có chất lượng

Khoa Địa lý Đại học Sư phạm Hà Nội là khoa đào tạo giáo viên địa lý đầu tiên của nước ta. Đây cũng là nơi xây dựng và thử nghiệm các chương trình đào tạo địa lý ở bậc đại học và sau đại học. Kể từ khi thành lập cho đến nay, Khoa đã triển khai xây dựng, đổi mới 6 chương trình khác nhau cho phù hợp với sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật của thế giới và tình hình kinh tế- xã hội của Việt Nam. Chương trình xây dựng năm 2006 kế thừa và phát triển các chương trình đã có từ trước và được thiết kế mềm dẻo hơn, mở hơn, có thể coi là chương trình hoàn thiện nhất và được ban hành với tư cách là chương trình khung dùng chung cho tất cả các khoa Địa lý trên phạm vi cả nước.

Trong 50 năm qua, Khoa Địa lý đã đào tạo được 6000 sinh viên hệ chính quy, trong đó có 18 sinh viên Lào. Ngoài ra còn có 1000 sinh viên hệ hàm thụ, tại chức, từ xa và 2217 giáo viên hệ 2 năm và 3 năm được chuẩn hoá thành hệ 4 năm.

So với các cơ sở đào tạo khác trong ngành, sinh viên tốt nghiệp khoa Địa lý trường ĐHSP Hà Nội được đánh giá là có chất lượng nhất. Phần lớn sinh viên tốt nghiệp làm công tác giảng dạy địa lý ở các trường phổ thông trung học và đáp ứng được yêu cầu ở nhà trường phổ thông. Một số trở thành các nhà khoa học đầu ngành làm việc tại các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu ở Trung Ương và địa phương và một số khác là cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tỉnh, thành phố.

1.2. Khoa Địa lý là nơi biên soạn hầu hết các giáo trình chuyên ngành, sách tham khảo, sách dịch cho đại học, cao đẳng và sách giáo khoa cho phổ thông

Sơ bộ tính đến nay, Khoa Địa lý đã hoàn thành 110 bộ giáo trình đại học và cao học, hơn 130 cuốn sách tham khảo, sách giáo khoa, bồi dưỡng giáo viên và dịch 36 cuốn sách.

a) Các giáo trình

Trong suốt 50 năm qua, nhờ hệ thống giáo trình không ngừng được hoàn thiện, chất lượng đào tạo của Khoa đã ổn định và ngày càng được nâng cao. Từ những giáo trình in typô, cho đến các giáo trình in rônêô thời kì chiến tranh và bây giờ là những giáo trình được in với chất lượng cao, tất cả đã là nguồn cung cấp kiến thức cơ bản và nghiệp vụ cho các thế hệ sinh viên, nằm trong hành trang vào đời và hành nghề của các thầy giáo, cô giáo địa lý. Một số giáo trình đã được Bộ Giáo dục thẩm định làm giáo trình dùng chung cho các trường đại học, cao đẳng. Nhiều bộ giáo trình đã là các bộ sách gối đầu giường của nhiều thế hệ sinh viên, đã được đánh giá cao không chỉ bởi sinh viên ngành sư phạm, mà còn bởi bạn đọc đông đảo thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.

Khó có thể thống kê hết được các giáo trình đã xuất bản và lưu hành, song trong từng giai đoạn nổi lên một số giáo trình tiêu biểu.

Vào thập kỷ 60 có các giáo trình mẫu mực như:

- Địa lý tự nhiên Việt Nam. Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập. Nxb Giáo dục, 1963, 1970.

- Địa lý tự nhiên đại cương (2 tập). Tập1: Hoàng Thiếu Sơn (1963), Tập 2: Hoàng Thiếu Sơn, Nguyễn Dược, Lê Trọng Túc, Đào Trọng Năng (1968), Nxb Giáo dục.

- Cơ sở địa lý kinh tế. Nguyễn Đức Mậu. Nxb Giáo dục, 1963

- Giáo học pháp dạy địa lý. Nguyễn Đức Chính, Trịnh Huy Chiểu, 1968.

- Phương pháp nghiên cứu và giảng dạy địa lý địa phương (tập 1 và 2). Lê Bá Thảo. Nxb Giáo dục 1967, 1968.

Trong thập kỷ 70 có giáo trình Địa lý tự nhiên Việt Nam (3 tập)- Vũ Tự Lập, Nxb Giáo dục, 1978.

Vào thập kỷ 80 có một số giáo trình chất lượng cao như:

- Cơ sở địa lý tự nhiên (3 tập). Lê Bá Thảo (chủ biên), Đỗ Hưng Thành, Trịnh Nghĩa Uông, Đặng Ngọc Lân, Nguyễn Văn Âu. Nxb Giáo dục, 1983-1984 (sách dùng chung cho các trường đại học).

- Bản đồ học. Ngô Đạt Tam (chủ biên). Nxb Giáo dục, 1984 (sách dùng chung cho các trường Đại học).

- Địa lý tự nhiên các lục địa (2 tập). Nguyễn Phi Hạnh. Nxb Giáo dục, 1983-1985 (sách dùng chung cho các trường đại học).

- Phân vùng kinh tế. Nguyễn Văn Quang. Nxb Giáo dục, 1981.

- Địa lý kinh tế Việt Nam (2 tập). Nguyễn Trọng Điều, Vũ Xuân Thảo. Nxb Giáo dục, 1983-1984.

- Phát triển tư duy địa lý. Lê Đức Hải. Nxb Giáo dục, 1983.

Vào thập kỷ 90 một số giáo trình chủ yếu được xuất bản như:

- Địa chất đại cương. Trần Anh Châu. Nxb Giáo dục, 1992.

- Lý luận dạy học địa lý. Nguyễn Dược (chủ biên), Nguyễn Trọng Phúc, Đặng Văn Đức. Trường ĐHSP Hà Nội I -1991.

- Lý luận dạy học địa lý (phần đại cương). Nguyễn Dược - Nguyễn Trọng Phúc. Nxb Giáo dục 1993.

- Phương pháp giảng dạy địa lý. Nguyễn Dược, Đặng Văn Đức, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Trọng Phúc, Trần Đức Tuấn. Nxb Giáo dục, 1996.

- Địa lý kinh tế thế giới (3 tập). Ông Thị Đan Thanh, Nguyễn Giang Tiến, Trần Bích Thuận, Tạ Thị Bảo Kim. Trường ĐHSP Hà Nội, 1993-1994.

- Sử dụng số liệu thống kê trong dạy học địa lý kinh tế - xã hội. Nguyễn Trọng Phúc. Nxb ĐHQG Hà Nội 1997.

- Bản đồ học. Lâm Quang Dốc, Phạm Ngọc Đĩnh, Lê Huỳnh. ĐHSP Hà Nội, 1995.

- Thực hành bản đồ và đo vẽ địa phương. Phạm Ngọc Đĩnh (chủ biên), Hoàng Xuân Lính, Đỗ Minh Tính, ĐHSP HN, 1995.

- Thực hành địa chất. Phùng Ngọc Đĩnh, ĐNQG HN, 1996.

- Giáo dục môi trường qua môn địa lý. Nguyễn Phi Hạnh, Nguyễn Thị Kim Chương. Nxb Giáo dục, 1997.

Vào những năm đầu của thế kỷ XXI có một số giáo trình tiêu biểu như :

- Giáo trình địa lý kinh tế- xã hội Việt Nam (tập 1). Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức. Nxb Giáo dục, 2000.

- Địa lý tự nhiên Việt Nam. Vũ Tự Lập. Nxb Giáo dục, 2000.

- Địa lý kinh tế- xã hội Việt Nam. Lê Thông (chủ biên), Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ. Nxb Giáo dục, 2001.

- Giáo trình Địa lý kinh tế- xã hội Việt Nam, (tập 1). Phần đại cương. Nxb Giáo dục, 2001, 2002, 2003.

- Địa lý tự nhiên đại cương 1. Nguyễn Trọng Hiếu (chủ biên), Phùng Ngọc Đĩnh. Nxb ĐHSP, 2003.

- Giáo trình Địa chất đại cương và địa chất lịch sử. Phùng Ngọc Đĩnh- Lương Hồng Hược. Nxb ĐHSP, 2003.

- Địa lý tự nhiên đại cương 3. Nguyễn Kim Chương (chủ biên), Nguyễn Trọng Hiếu, Lê Thị Ngọc Khanh, Đỗ Thị Nhung. Nxb ĐHSP, 2003.

- Phương pháp toán trong Địa lý. Nguyễn Kim Chương. Nxb ĐHSP, 2004.

- Lý luận dạy học địa lý. Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc – 2004.

- Phương pháp dạy học địa lý theo hướng tích cực. Đặng Văn Đức, Nguyễn Thu Hằng. Nxb ĐHSP,2004.

- Giáo dục Môi trường qua môn địa lý. Nguyễn Phi Hạnh, Nguyễn Thu Hằng. Nxb ĐHSP, 2004.

- Thiết kế các môđun Giáo dục môi trường qua khai thác sách giáo khoa địa lý. Đặng Văn Đức, Nguyễn Thu Hằng. Nxb ĐHSP, 2005.

- Bản đồ học chuyên đề. Lê Huỳnh, Nxb Giáo dục, 2001.

- Bản đồ chuyên đề. Lâm Quang Dốc. Nxb Đại học Sư phạm, 2002.

- Bản đồ học đại cương. Lâm Quang Dốc, Phạm Ngọc Đĩnh (chủ biên). Nxb Đại học Sư phạm, 2005.

Ngoài việc xây dựng giáo trình cho khoa, Khoa Địa lý trường ĐHSP Hà Nội còn biên soạn giáo trình dùng chung cho các trường Cao đẳng, một số giáo trình cho hệ đào tạo từ xa của ĐHSP Huế, cho một số trường Đại học trong nước, 4 bộ giáo trình cho Đại học Sư phạm Viêng Chăn (Lào) và 2 bộ giáo trình cho ĐHTH Phnôm Pênh (Campuchia). Một số giáo trình dành cho Cao đẳng mới xuất bản như:

 - Thổ nhưỡng và sinh quyển. Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Hiếu, Nxb Giáo dục, 1999.

- Lớp vỏ cảnh quan và các quy luật địa lý của Trái Đất. Nguyễn Kim Chương, Nxb Giáo dục, 1998.

- Thực hành ngoài trời các thành phần tự nhiên. Phùng Ngọc Đĩnh (chủ biên), Nguyễn Văn Âu, Phan Khánh, Hoàng Ngọc Oanh, Nxb Giáo dục, 1998.

- Địa lý các khu vực và một số quốc gia châu Á và châu Đại dương. Nguyễn Phi Hạnh, Ông Thị Đan Thanh, Nxb Giáo dục, 2000.

- Bản đồ học. Lê Huỳnh, Nxb Giáo dục, 1998

- Địa hình bề mặt Trái Đất. Đỗ Hưng Thành, Nxb Giáo dục, 1998.

- Khí quyển và thạch quyển. Hoàng Ngọc Oanh, Nguyễn Văn Âu. Nxb Giáo dục, 1998.

- Địa chất đại cương và Địa chất lịch sử. Phùng Ngọc Đĩnh. Nxb Giáo dục, 1999.

- Địa lý địa phương, Nxb Giáo dục 1999 Lê Huỳnh - Nguyễn Minh Tuệ.

- Về cao học, cho đến nay mới chỉ biên soạn được một số giáo trình cho chuyên ngành Địa lý - Giáo dục dân số trong khuôn khổ của Dự án VIE/89/P10. Đó là:

- Địa lý nhân văn. Lê Thông.Trường ĐHSP Hà Nộ, 1993.

- Dân số học và địa lý dân cư. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ. Trường ĐHSP Hà Nội, 1993.

- Dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội. Nguyễn Minh Tuệ. Trường ĐHSP Hà Nội, 1993.

- Các chỉ tiêu đo tỉ lệ chết và tỉ lệ sinh và gia tăng tự nhiên. Nguyễn Viết Thịnh. Trường ĐHSP Hà Nội, 1994.

- Dân số và nông nghiệp. Nguyễn Viết Thịnh. Trường ĐHSP Hà Nội, 1994.

- Dân số và tài nguyên. Nguyễn Trọng Điều. Trường ĐHSP Hà Nội, 1994.

- Dân số và môi trường. Nguyễn Giang Tiến. Trường ĐHSP Hà Nội, 1994.

- Các giáo trình Dự án cho cao đẳng Sư phạm: Cơ sở địa lý tự nhiên đại cương, Lý luận dạy học địa lý, giáo dục dân số và môi trường.v.v..

b) Về các sách chuyên khảo

Nhiều cuốn sách chuyên khảo có giá trị và được tổng kết lại từ các công trình nghiên cứu khoa học đã được xuất bản, như:

- Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam. Vũ Tự Lập. Nxb KH-KT, 1976.

- Geography of Vietnam. Nguyễn Trọng Điều. Nxb Thế giới 1982, tái bản 1995.

- Địa lý đồng bằng sông Cửu Long. Lê Bá Thảo, Nxb Đồng Tháp, 1986.

- Thiên nhiên Việt Nam. Lê Bá Thảo. Nxb Khoa học kỹ thuật,1977 (tái bản 1990). Nxb Giáo dục 2001.

- Việt Nam: lãnh thổ và các vùng địa lý. Lê Bá Thảo. Nxb Thế giới,1998, 1999 (in bằng tiếng Việt, Anh, Trung Quốc).

- Địa lý Việt Nam. Trần Đình Gián (chủ biên), Vũ Tự Lập, Nguyễn Trọng Điều, Vũ Như Vân. Nxb Khoa học xã hội, 1990.

- Phân kiểu kinh tế - xã hội cấp tỉnh và cấp huyện Việt Nam. Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức. Nxb từ điển Bách Khoa- 2005.

- Windows MS Office & Internet Dùng trong giảng dạy và nghiên cứu địa lý. Nguyễn Viết Thịnh (chủ biên). Nxb ĐHSP Hà Nội – 2005.

c) Các sách tham khảo:

Đây là mảng sách rất phong phú và có vai trò cực kì quan trọng trong việc xã hội hoá các tri thức địa lý cho rộng rãi các tầng lớp nhân dân. Nhiều sách tham khảo còn đồng thời phản ánh những kết quả nghiên cứu riêng của các tác giả. Có thể kể hàng loạt cuốn sách về các lĩnh vực khác nhau của địa lý.

Về địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội

- Đời sống con sông. Lê Bá Thảo, 1966.

- Miền núi và con người. Lê Bá Thảo. Nxb Khoa học kỹ thuật, 1970.

- Sông ngòi Việt Nam (2 tập). Nguyễn Văn Âu. Nxb Giáo dục 1981-1982. Nxb ĐHQG HN, 1997.

- Địa hình cacxtơ ở Việt Nam. Đào Trọng Năng, Nxb KH-KT, 1979.

- Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam Nguyễn Văn Âu. ĐHQG HN, 1999.

- Các chủng tộc trên thế giới đều bình đẳng. Hoàng Thiếu Sơn. Nxb Khoa học, 1966.

- Nguồn gốc người Vạn Đảo (2 tập). Hoàng Thiếu Sơn chuyển tác từ nhiều tài liệu viết về các chuyến thám hiểm của nhà nhân loại học người Nauy Thor Heyerdahl. Nxb Giáo dục 1983-1985.

- Thế giới động vật. Hoàng Thiếu Sơn. Nxb Giáo dục, 1989.

- Tự nguyện làm người đắm tàu. (Alain Bombard) Hoàng Thiếu Sơn dịch và chú thích, Nxb Giáo dục, 1983.

- Đà Lạt, thiên đường du lịch. Huỳnh Thị Cả, Nguyễn Trọng Lân, Nxb Văn hoá, 1980.

- Thiên nhiên Tây Nguyên. Huỳnh Thị Cả, Nguyễn Trọng Lân, Nxb Giáo dục, 1985.

- Việt Nam non xanh nước biếc. Hoàng Thiếu Sơn, Tạ Thị Bảo Kim. Nxb Giáo dục, 1991.

- Lào: đất nước và con người. Nguyễn Trọng Điều. Nxb Giáo dục, 1987.

- Dân số - tài nguyên - môi trường. Đỗ Thị Minh Đức, Nguyễn Viết Thịnh. Nxb Giáo dục 1996.

- Ôn tập môn địa lý theo chủ điểm. Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức. ĐHQG HN, 2000.

- Hướng dẫn ôn tập và trả lời câu hỏi môn địa lý. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Trọng Phúc. Nxb ĐHQG,1999.

- Địa lý du lịch. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên). Nxb TP HCM, 1997.

- Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên thế giới. Lê Thông. Nxb GD, 1986.

- Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam (2 tập). Lê Thông (chủ biên). Nxb Giáo dục, 2001.

Các tài liệu bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì cho giáo viên địa lý ở phổ thông trung học đều do cán bộ giảng dạy của khoa Địa lý biên soạn và trực tiếp đi bồi dưỡng. Để triển khai các chu kì bồi dưỡng, các cuốn sách đã được biên soạn như:

- Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông (Nguyễn Phi Hạnh, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nxb Giáo dục, 1994); Địa lý một số quốc gia và khu vực trên thế giới (Phạm Tế Xuyên, Vụ Giáo viên, 1993), Một số vấn đề về địa lý tự nhiên (Nguyễn Dược. Nxb Giáo dục 2000). một số vấn đề về địa công nghiệp (Nguyễn Minh Tuệ, Nxb Giáo dục, 1995) Địa lý giao thông vận tải, thông tin liên lạc, dịch vụ, du lịch (Lê Thông, Phạm Tế Xuyên, Nxb Giáo dục, 1995), Tổ chức lãnh thổ du lịch (Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Nxb Giáo dục 1999), Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Việt Nam (Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Nxb Giáo dục 2000), Kỹ thuật dạy học địa lý (Đặng Văn Đức, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nxb Giáo dục 1999)...

- Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPT về đổi mới phương pháp dạy học địa lý. Đặng Văn Đức. Nxb ĐHSP, 2005.

- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên THCS, THPT (chu kỳ 2004 – 2007). Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005.

d) Các sách dịch

Nhằm góp phần xây dựng nền khoa học địa lý nước nhà, nhiều tài liệu nước ngoài có giá trị cao về khoa học đã được dịch (chủ yếu từ tiếng Nga). Một đội ngũ các nhà khoa học, cán bộ giảng dạy của Khoa đã tham gia biên dịch, trong đó người có nhiều công lao về mặt này phải kể đến nhà giáo Đào Trọng Năng. Phần lớn các bản dịch viết tay còn được lưu trữ ở Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, do điều kiện in ấn trong nhiều năm có khó khăn. Một số tài liệu đã được xuất bản như: Địa mạo học đại cương, I.X. Sukin (Đào Trọng Năng dịch, Nxb GD, 1967); Toát yếu địa lý đại cương. S.V Kalexnik (Lê Bá Thảo dịch, Nxb GD, 1963); Những quy luật chung của Trái Đất I.V. Kalexnik (Đào Trọng Năng dịch, Nxb Khoa học Kỹ thuật, 1972, 1978); Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên, A.G. Ixatsencô (Vũ Tự Lập, Nguyễn Phi Hạnh, Trịnh Sanh dịch, Nxb KHKT, 1969); Những quy luật cấu trúc và phát triển của lớp vỏ địa lý, A.A. Grigôriev (Hoàng Hữu Triết dịch, Nxb Khoa học Kỹ thuật, 1972); Địa lý sinh vật, A.G. Voronov (Đặng Ngọc Lân dịch, Nxb KHKT, 1976); Địa lý học ngày nay. A.G. Ixatsencô (Đào Trọng Năng dịch, Nxb Giáo dục, 1985); Cảnh quan học ứng dụng, A.G. Ixatsenko (Đào Trọng Năng dịch, Nxb KHKT, 1985); Địa hoá cảnh quan, Perenman (Vũ Tự Lập, Trịnh Sanh dịch, Nxb Khoa học Kỹ thuật, 1985); Địa lý tự nhiên đại cương (3 tập), L.P. Subaev (Đào Trọng Năng, Trịnh Nghĩa Uông dịch, Nxb Giáo dục, 1981); Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Địa lý kinh tế - xã hội, Z.E. Dzenis (Lê Thông dịch, Nxb Giáo dục, 1984); Các quá trình dân số trong xã hội XHCN (Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ dịch, Nxb Giáo dục 1986).

Ngoài ra, nhiều cán bộ trong khoa đã tham gia biên soạn các loại từ điển khác nhau (Danh từ địa lý Nga - Việt (1962), Từ điển địa danh nước ngoài, Từ điển bách khoa Việt Nam)...

e) Các sách giáo khoa cho trường phổ thông

Cán bộ trong khoa Địa lý trường ĐHSP Hà Nội là lực lượng chủ chốt biên soạn sách giáo khoa cho học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học.

Trước cải cách giáo dục, các bộ sách giáo khoa địa lý phổ thông đều do các nhà giáo của khoa biên soạn (Trần Đình Gián, Trịnh Huy Chiểu, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Xuân Thảo, Nguyễn Dược...)

Từ cải cách giáo dục đến nay, khoa Địa lý đã tham gia biên soạn 12 bộ sách giáo khoa cho chương trình cải cách và chương trình phân ban. Đó là các sách giáo khoa Địa lý lớp 6 (Nguyễn Dược), lớp 7 (Mai Xuân San, Nguyễn Phi Hạnh), lớp 8 (Nguyễn Trọng Lân), lớp 9 (Nguyễn Trọng Điều). Sách giáo khoa phổ thông trung học cho chương trình CCGD gồm có Địa lý lớp 10 (Nguyễn Dược, Nguyễn Viết Thịnh, Nguyễn Minh Tuệ), lớp 11 (Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Giang Tiến, Nguyễn Cao Phương), lớp 12 (Lê Thông, Nguyễn Viết Thịnh). Đối với chương trình phân ban có sách giáo khoa địa lý lớp 10 ban C (Nguyễn Dược, Nguyễn Phi Hạnh, Nguyễn Viết Thịnh, Nguyễn Minh Tuệ), lớp 11 ban C (Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Cao Phương, Nguyễn Giang Tiến), lớp 12 ban C (Lê Thông, Nguyễn Viết Thịnh, Đặng Duy Lợi, Nguyễn Kim Chương), lớp 10 ban A & B (Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Cao Phương, Nguyễn Giang Tiến) và lớp 11 ban A & B (Lê Thông, Nguyễn Viết Thịnh). Cùng với chúng là 12 bộ sách giáo viên và một số sách phục vụ cho việc thay sách như “Một số vấn đề cơ sở địa lý kinh tế - xã hội” (Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức, ĐHSPHN, 1990), “Một số vấn đề địa lý kinh tế - xã hội thế giới” (Nguyễn Giang Tiến, Ông Thị Đan Thanh, Nguyễn Bích Thuận, Nguyễn Viết Thịnh, ĐHSP HN, 1991), “Một số vấn đề địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Viết Thịnh chủ biên, Đỗ Thị Minh Đức, Nguyễn Thế Đống, Phạm Tế Xuyên, Nguyễn Thị Sơn, ĐHSP HN, 1992).

Cán bộ của khoa là tổng chủ biên, chủ biên và tác giả của các sách giáo khoa Địa lý mới từ lớp 6 đến lớp12.

Cán bộ của Khoa Địa lý cũng là lực lượng chính tham gia biên soạn các bản đồ, các bộ bản đồ bài tập, atlas giáo khoa phục vụ giảng dạy địa lý và lịch sử ở trường phổ thông (PGS. TS Ngô Đạt Tam, PGS. TS Lê Huỳnh, PGS. TS Vũ Tuấn Cảnh, PGS.TS Lâm Quang Dốc).

1.3. Khoa Địa lý là cơ sở đào tạo cao học địa lý lớn nhất cả nước và là cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh duy nhất về địa lý trong hệ thống các trường sư phạm

Việc triển khai hệ đào tạo này được bắt đầu chính thức từ năm 1976 khi Bộ Giáo dục cho phép khoa Địa lý là một cơ sở đào tạo sau đại học. Cho đến năm 2006, khoa đã đào tạo được 14 khoá sau đại học (thời kỳ trước 1991 - 1992) và 16 khoá cao học (từ 1991 - 1992 đến nay). Tính đến nay đã có 452 học viên tốt nghiệp Thạc sĩ, trong đó số học viên Cao học được chuẩn hoá là 88 người.

Chương trình đào tạo cao học thường xuyên được đổi mới, cập nhật. Hệ đào tạo này đã thu hút đông đảo cán bộ giảng dạy từ các khoa Địa lý của các trường Đại học Sư phạm trong cả nước, từ các trường Cao đẳng, từ các trường phổ thông và từ một số cơ quan khác. Nhìn chung, chất lượng đào tạo được đánh giá tốt.

Khoa Địa lý là cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh địa lý hàng đầu của cả nước và duy nhất trong ngành sư phạm. Việc mở hệ đào tạo nghiên cứu sinh đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ hướng dẫn.

Luận án PTS địa lý trong nước đầu tiên là của GS. Vũ Tự Lập (1975). Cho đến hết thập niên 80 có 9 luận án PTS đã bảo vệ thành công tại khoa Địa lý. Từ đầu thập niên 90 đến nay, số lượng nghiên cứu sinh tăng nhanh, nhất là trong thời kỳ trước năm 1997. Các hệ đào tạo gồm có hệ chính quy tập trung, hệ không tập trung và hệ ngắn hạn (chấm dứt vào 1996 - 1997). Tính đến năm 2006 có 87 luận án TS đã bảo vệ thành công. Hiện nay có 15 nghiên cứu sinh học tập và nghiên cứu tại Khoa.

Là một cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh hàng đầu về địa lý, khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã thu hút nhiều cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu từ các cơ quan khác nhau đến làm nghiên cứu sinh. Trong số này có cả cán bộ từ Lào và Cămpuchia. 5 nghiên cứu sinh Lào và Cămpuchia đã bảo vệ thành công luận án PTS, trong đó có 3 nghiên cứu sinh Lào (Xỉtha, Khămmani, Khămtăn) và 2 nghiên cứu sinh Cămpuchia (Chayon, Uvutđi).

Việc đẩy mạnh công tác đào tạo cao học, nghiên cứu sinh một mặt góp phần học vị hoá và nâng cao tiềm lực cho đội ngũ cán bộ trong khoa và mặt khác, nâng cao uy tín của khoa Địa lý với tư cách như một khoa đầu đàn trong lĩnh vực này.

1.4. Khoa Địa lý cung cấp cán bộ có chất lượng và tham gia đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy cho các trường Đại học Sư phạm, Cao đẳng Sư phạm và một số trường Đại học, Cao đẳng khác ở trong nước và ở nước ngoài

a) Khoa Địa lý đã chia sẻ đội ngũ cán bộ của mình để góp phần xây dựng :

- Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Việt Bắc (nay là Đại học Sư phạm Thái Nguyên thuộc Đại học Thái Nguyên).

- Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (hiện nay không tiếp tục đào tạo).

- Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

- Ban Địa lý Đại học Cần Thơ (nay là khoa Sư phạm)

- Khoa Hoá - Địa (nay là khoa Địa lý) trường ĐHSP Quy Nhơn

b) Khoa Địa lý đã cung cấp cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng và tham gia giảng dạy ở:

- Đại học Nông nghiệp I

- Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Huế

- Bộ môn Địa lý trường ĐHKTQD Hà Nội (nay là khoa Kinh tế quản lý môi trường và đô thị)

- Đại học Giao thông Hà Nội

- Đại học Thương mại Hà Nội

- Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học KHTN)

- Đại học Luật Hà Nội

- Đại học Báo chí, tuyên truyền

- Đại học Ngoại giao

- Đại học An Ninh

- Đại học Công đoàn

- Học viện Hành chính Quốc gia

- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

- Viện Địa lý (Trung tâm KHTN và CN Quốc gia)

- Trung tâm Địa lý nhân văn (Trung tâm KHXH và NV Quốc gia)

- Viện Khoa học Giáo dục

- Trung tâm Bản đồ giáo khoa và tranh ảnh giáo dục

- Một số trường Đại học khác và trường Cao Đẳng

c) Các cán bộ khoa Địa lý tham gia giảng dạy nhiều năm và biên soạn giáo trình cho:

- Đại học Sư phạm Viêng Chăn (Lào)

- Đại học Tổng hợp Phnôm Pênh (Cămpuchia)

- Đại học Sư phạm Lubăngu và Huămbu (Ăngôla)

- Cao đẳng Sư phạm Benghêla (Ăngôla)

2. Vươn tới những chân trời mới

Nghiên cứu khoa học được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, không thể thiếu được của khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Muốn vươn tới những chân trời mới để khám phá ra các bí mật của thiên nhiên, con người và gắn với công cuộc xây dựng đất nước, công tác nghiên cứu khoa học đã được tiến hành trong suốt 50 năm qua.

2.1. Vận dụng và phổ biến phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học Địa lý vào Việt Nam

Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Địa lý học ở nước ta hầu như không được phát triển. Vì thế, sau khi miền Bắc được giải phóng, với sự ra đời của khoa Địa lý đầu tiên ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Địa lý học có điều kiện để phát triển. Thế hệ các bậc thầy sáng lập khoa đã có công lớn trong việc nghiên cứu, tiếp thu cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu địa lý, ứng dụng vào giảng dạy và phát triển những vấn đề về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đối với địa lý học nói chung cũng như đối với địa lý tự nhiên hay địa lý kinh tế - xã hội nói riêng, đặt nền móng cho nền địa lý học hiện đại ở nước ta.

2.2. Tham gia giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước liên quan đến lĩnh vực địa lý học

Đội ngũ cán bộ trong khoa đã chủ trì hoặc tham gia nhiều chương trình, đề tài các cấp, từ cấp Nhà nước cho đến cấp Bộ, cấp trường. Cho đến nay, hơn 100 đề tài các cấp đã được triển khai tại khoa Địa lý.

a) Một số đề tài cấp Nhà nước tiêu biểu do cán bộ của khoa chủ trì:

- Đề tài phân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam do thầy Nguyễn Đức Chính làm chủ nhiệm. Đề tài chia làm 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1961 - 1963 do khoa Địa lý tiến hành với nhiệm vụ vạch ra sơ đồ phân vùng lãnh thổ Việt Nam.

+ Từ 1963 đến 1965, khoa phối hợp với Tổ phân vùng Địa lý tự nhiên thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước có sự giúp đỡ của hai giáo sư tiến sĩ địa lý Liên Xô (E.M. Murzaev và V.G. Zavriev). Kết quả nghiên cứu đã được công bố trong cuốn Phân vùng lãnh thổ địa lý tự nhiên Việt Nam (Nxb Khoa học Kỹ thuật, 1970).

- Đề tài phân vùng địa lý tự nhiên (chủ nhiệm: Nhà giáo Lê Trọng Túc) thuộc Chương trình Điều tra tổng hợp Tây Bắc và đề tài Điều tra xói mòn gia tốc ở Tây Bắc (chủ nhiệm: PGS.TS Đỗ Hưng Thành) được thực hiện vào 1977- 1982.

- Đề tài điều tra tổng hợp vùng Thuận Hải (nay là Ninh Thuận, Bình Thuận) do giáo sư Vũ Tự Lập làm chủ nhiệm (1977-1981).

- Đề tài điều tra kinh tế - xã hội Tây Nguyên thuộc Chương trình Tây Nguyên 1 do TS Huỳnh Thị Cả làm chủ nhiệm (1977 - 1981).

- Xây dựng Atlat Hà Nội do PGS.TS Ngô Đạt Tam làm chủ nhiệm (1980- 1985).

- “Điều tra tổng hợp vùng cửa sông Cửu Long”- Đề tài cấp Nhà nước, năm 1986, giáo sư Vũ Tự Lập làm chủ nhiệm.

- Trong Chương trình Atlas quốc gia, GS Trần Đình Gián, GS Lê Bá Thảo đã tham gia hiệu đính, TS Phạm Ngọc Đĩnh là chủ nhiệm phần về các bản đồ văn hoá xã hội.

- Tổ chức lãnh thổ đồng bằng sông Hồng (đề tài độc lập trọng điểm cấp Nhà nước) do giáo sư Lê Bá Thảo làm chủ nhiệm (1992-1994).

- Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ Việt Nam (đề tài độc lập trọng điểm cấp Nhà nước) do giáo sư Lê Bá Thảo làm chủ nhiệm (1995-1996).

- Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống du lịch biển Việt Nam do PSG.TS Vũ Tuấn Cảnh làm chủ nhiệm (1992 - 1995).

- Xây dựng cơ sở khoa học cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghề cá huyện Giao Thuỷ, Nam Định do GS.TS Nguyễn Viết Thịnh làm chủ nhiệm (2005 - 2006).v.v..

b) Đề tài cấp Bộ

Hàng loạt đề tài cấp Bộ (hay tương đương) do cán bộ khoa Địa lý chủ trì. Ngoài ra còn có một số Dự án hợp tác do nước ngoài (Hà Lan,Nauy, Ôxtrâylia) hay tổ chức quốc tế (UNDP, UNFPA) tài trợ. Chủ trì các đề tài (hoặc Dự án) thuộc dạng này tiêu biểu là GS.TS Lê Thông, GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Đỗ Thị Minh Đức, PGS.TS Đặng Duy Lợi, PGS Nguyễn Phi Hạnh, PGS.TS Đặng Văn Đức, PGS.TS Lâm Quang Dốc, PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, PGS.TS Nguyễn Thu Hằng, PGS.TS Nguyễn Kim Chương, PGS.TS Lê Huỳnh, PGS.TS Nguyễn Thục Nhu.v.v..

c) Bài báo khoa học

Hàng trăm bài báo khoa học đã được công bố trong tạp chí chuyên ngành ở trong nước (Tạp chí các khoa học về Trái Đất, Thông báo khoa học của các trường đại học, Thông báo khoa học (nay là Tạp chí khoa học) của ĐHSP HN, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Tạp chí khoa học xã hội và nhân văn quốc gia...) và ngoài nước (ở Liên Xô, Bungari, Đức, Ba lan, Rumani, Ôxtrâylia, Nauy...).

2.3 Đẩy mạnh hướng nghiên cứu gắn với thực tiễn của đất nước, nhất là hướng địa lý ứng dụng

Đã từ lâu, các hướng nghiên cứu của khoa Địa lý tập trung vào hướng khoa học cơ bản, khoa học giáo dục và địa lý ứng dụng. Trong số 3 hướng này, hướng địa lý ứng dụng có nhiều điều kiện để phát triển. Hai số thông báo khoa học đầu tiên của Khoa Địa lý (1980) đã được đặt tên là Địa lý ứng dụng, khẳng định rõ định hướng này.

- Ngay từ thập kỷ 70 đã có các nghiên cứu địa mạo ứng dụng, cảnh quan học ứng dụng nhằm góp phần phục vụ cho việc phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai hướng này có gặp nhiều khó khăn do đội ngũ cán bộ còn mỏng, nên khả năng đáp ứng được nhu cầu của xã hội hạn chế.

- Hướng nghiên cứu địa lý địa phương, trong chừng mực nhất định, đã có những đóng góp cụ thể. Trong thập kỷ 80 - 90 của thế kỷ XX, khoa Địa lý đã đẩy mạnh hướng nghiên cứu địa lý địa phương. Kết quả là một số công trình nghiên cứu về Địa lý địa phương cấp tỉnh đã được triển khai và đạt được những kết quả khả quan. Sau một thời gian nghiên cứu, các tài liệu về địa lý địa phương đã được biên soạn và có giá trị đối với giáo viên và học sinh của từng tỉnh, thành. Một số cuốn sách về địa lý địa phương đã được biên soạn địa lý Hà Nội, địa lý Hà Tây, địa lý Hoà Bình, địa lý Hà Bắc, địa lý Hải Phòng... Các công trình này trước mắt đáp ứng yêu cầu về giảng dạy và học tập địa lý địa phương các tỉnh.

- Từ đầu thập kỷ 90, hướng nghiên cứu ứng dụng chung là nghiên cứu tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế và đời sống kinh tế - xã hội. Một trong các hướng nghiên cứu địa lý ứng dụng là Địa lý du lịch. Thông qua một số kết quả nghiên cứu có thể thấy hướng Địa lý du lịch phát triển tương đối thuận lợi. Trong thập kỷ 90, Địa lý du lịch được coi là một phân ngành đào tạo cao học thuộc chuyên ngành Địa lý kinh tế - xã hội. Những hướng nghiên cứu ứng dụng khác là tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản... và nghiên cứu dải ven biển.

- Ngoài các hướng trên có thể nêu thêm một số hướng khác như giáo dục dân số, giáo dục môi trường, địa lý quân sự.

Một trong những nét đặc trưng trong sự phát triển của nghiên cứu khoa học của Khoa những năm qua là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghiên cứu khoa học với công tác đào tạo của Khoa. Có thể nói, rất nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã được đưa vào các giáo trình, nâng cao một bước chất lượng đào tạo cả ở Đại học và Sau đại học. Nhiều phương hướng nghiên cứu đã phát triển thành các giáo trình, các học phần đào tạo chính thức. Đặc biệt, phương hướng nghiên cứu định lượng, cả trong địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội đã được khẳng định. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong nghiên cứu và giảng dạy đã trở thành nhu cầu thiết thực và trên cơ sở đó, Khoa đã có các bước đi thích hợp để từng bước hiện đại hoá.

3. Những cánh chim không mỏi...

Có được những vụ mùa bội thu là nhờ tinh thần quyết tâm của cán bộ và sinh viên khoa Địa lý dưới lãnh đạo của Đảng uỷ, Ban chủ nhiệm khoa với những cánh chim không mỏi vì sự nghiệp đào tạo của khoa. Đó là các nhà giáo nhận trọng trách Chủ nhiệm khoa, Bí thư đảng uỷ, Chủ tịch công đoàn, liên chi đoàn và Tổ trưởng bộ môn.

Các nhà giáo đã từng giữ cương vị chủ nhiệm khoa qua các thời kì:

- NGND.GS. Nguyễn Đức Chính

- NGND.GS Trần Đình Gián

- NGƯT.PGS Lê Bá Thảo

- Nhà giáo Nguyễn Văn Thọ (Trưởng ban điều hành khoa 1985-1986).

- PGS.TS Đỗ Hưng Thành, chủ nhiệm khoa 1986-1988 (dở nhiệm kỳ do đi Ăngôla).

- GS.TS Lê Thông, chủ nhiệm khoa 1988-1989 (dở nhiệm kỳ do đi làm Master về giáo dục dân số ở Philipin).

- PGS.TS Đặng Duy Lợi, quyền chủ nhiệm khoa 1989-1991.

- GS.TS Lê Thông, chủ nhiệm khoa 1991-1999.

- GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, chủ nhiệm khoa 1999-2006 (dở nhiệm kỳ do đảm nhiệm vị trí Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội).

- PGS.TS Đặng Văn Đức, chủ nhiệm khoa 2006 - 2011.

- TS. Đỗ Văn Thanh (hiện nay)

Các nhà giáo đã từng giữ cương vị Bí thư Đảng uỷ Khoa qua các thời kì:

- Nhà giáo Bùi Văn Loãn.

- GS Trần Đình Gián.

- Nhà giáo Đặng Ngọc Lân (A).

- Nhà giáo Nguyễn Văn Quang.

- TS Đoàn Ngọc Nam.

- Nhà giáo Nguyễn Văn Thọ.

- TS Nguyễn Giang Tiến

- Nhà giáo Nguyễn Thế Đống.

- PGS.TS Lâm Quang Dốc.

- PGS.TS Đặng Duy Lợi.

- PGS.TS Đặng Văn Đức

- PGS.TS Kiều Văn Hoan (hiện nay)

Các nhà giáo từng giữ cương vị Chủ tịch Công đoàn qua các thời kì:

- Nhà giáo Trịnh Huy Chiểu.

- Nhà giáo Bùi Văn Loãn.

- Nhà giáo Trịnh Sanh.

- GS. Vũ Tự Lập.

- Nhà giáo Nguyễn Thế Đống.

- PGS.TS. Hoàng Ngọc Oanh.

- Nhà giáo Phạm Tế Xuyên

- Nhà giáo Lê Công Vân.

- Nhà giáo Nguyễn Trọng Hiếu.

- Th.S Trần Thị Hồng Mai

- TS. Nguyễn Ngọc Ánh

Các nhà giáo từng giữ cương vị Bí thư Liên chi đoàn qua các thời kì:

PGS. TS Phạm Ngọc Đĩnh, PGS Nguyễn Phi Hạnh, Nhà giáo Phạm Ngọc Kê, PGS.TS Lâm Quang Dốc, PGS.TS Đặng Văn Đức, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hằng, PGS.TS Đỗ Thị Minh Đức, TS Nguyễn Thị Sơn, TS Trần Đức Tuấn, Thạc sĩ Nguyễn Tường Huy, Thạc sĩ Kiều Văn Hoan, Thạc sĩ Vũ Thị Hằng, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Ánh, Nguyễn Hoàng Long, Thạc sĩ Nguyễn Thanh Xuân, Thạc sĩ Phạm Thị Ngọc Quỳnh, Thạc sĩ Lê Mỹ Dung (hiện nay).

Các nhà giáo từng giữ cương vị Tổ trưởng bộ môn qua các thời kì:

PGS. Lê Bá Thảo, GS. Vũ Tự Lập, NGND Hoàng Thiếu Sơn, TS Đào Bá Cương, nhà giáo Trần Anh Châu, nhà giáo Bùi Văn Loãn, nhà giáo Lê Trọng Túc, nhà giáo Đặng Ngọc Lân (A), PGS. Nguyễn Phi Hạnh, PGS. Nguyễn Dược, nhà giáo Vũ Xuân Thảo, TS. Huỳnh Thị Cả, TS Nguyễn Giang Tiến, GS. TS Nguyễn Viết Thịnh, nhà giáo Lê Đức Hải, PGS.TS. Hoàng Ngọc Oanh, PGS.TS. Lâm Quang Dốc, PGS.TS.Nguyễn Trọng Phúc, PGS.TS. Phạm Ngọc Đĩnh, PGS.TS. Nguyễn Thục Nhu, PGS.TS Đặng Văn Đức, PGS.TS Đặng Duy Lợi, PGS. TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc, PGS.TS Lê Huỳnh, TS Đào Ngọc Hùng, PGS.TS Kiều Văn Hoan (tổ Bản đồ, Viễn thám và GIS), TS. Nguyễn Quyết Chiến (tổ Địa lý tự nhiên), TS. Nguyễn Tường Huy (tổ Địa lý kinh tế - xã hội), TS. Trần Thị Thanh Thủy (tổ Phương pháp giảng dạy địa lý).

50 năm đã trôi qua, từ hai bàn tay trắng, Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã từng bước trưởng thành và đang tiến lên hiện đại. Bên cạnh đội ngũ cán bộ và sinh viên trong khoa, với nhiều GS, PGS, TS còn có đông đảo các bạn bè đồng nghiệp của nhiều trường Đại học và Cao đẳng Sư phạm trong phạm vi cả nước cũng như hàng ngàn giáo viên phổ thông. Tất cả tạo nên sức mạnh nhằm phát triển nền khoa học Địa lý, nền giáo dục Địa lý ở Việt Nam.

50 năm qua là một chặng đường phấn đấu đầy gian nan nhưng cũng thật hào hùng. Các thế hệ thầy trò khoa Địa lý cùng ôn lại những thành tựu đã đạt được để tự hào, để nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc phấn đấu giữ vững uy tín của một Khoa Địa lý đầu đàn trong một Trường Đại học Sư phạm có lịch sử hơn nửa thế kỷ, đang trở thành một trường Đại học Sư phạm trọng điểm của cả nước trong thời kì Đổi mới.